Ngày 1/7/2011, Luật Khoáng sản (sửa đổi)
được Kỳ họp thứ 8- Quốc hội khóa XII thông qua chính thức có hiệu lực thi hành,
để thay thế Luật Khoáng sản năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khoáng sản năm 2005; trong đó bổ sung 48 điều mới hoàn toàn về nội dung và
sửa đổi, bổ sung 38 điều của Luật Khoáng sản năm 1996, đã mang tính cơ bản,
toàn diện, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về khoáng sản.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Trưởng Ban soạn thảo Luật Khoáng sản (sửa đổi) khẳng định: Luật Khoáng sản (sửa
đổi) đã kế thừa và thể hiện được các quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với
khoáng sản thời gian qua. Qua đó, khoáng sản được xác định là tài sản thuộc sở
hữu toàn dân, hầu hết không tái tạo nên phải được quản lý, bảo vệ, khai thác,
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững
kinh tế-xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm an ninh-quốc phòng.
Luật đã thể hiện rõ những quan điểm mới
mang tính “đột phá” làm thay đổi căn bản công tác bảo vệ, quản lý, khai thác,
sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản quốc gia; giải quyết được các vấn đề gây
nhiều bức xúc và tranh luận trong công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản từ
trước đến nay; đồng thời bãi bỏ các quy định bất cập, bổ sung các quy định mới
phù hợp hơn với thực tiễn. Việc chi tiết hóa các vấn đề có đủ cơ sở lý luận và
thực tiễn ngay trong các điều khoản của Luật, giúp giảm số lượng các văn bản
hướng dẫn dưới luật.
Nếu như Luật Khoáng sản năm 1996 chỉ có 66
Điều thể hiện trong 12 Chương, thì Luật Khoáng sản (sửa đổi) lần này có 86 Điều
thể hiện trong 11 Chương. Trong đó, Luật đã bổ sung thêm 48 Điều mới hoàn toàn
về nội dung và sửa đổi, bổ sung 38 Điều được giữ lại từ Luật cũ. Bên cạnh việc
bỏ đi 2 Chương của Luật 1996 là “Khảo sát khoáng sản” và “Khen thưởng, xử
phạt”, Luật sửa đổi đã kết cấu lại và bổ sung 6 Chương mới. Các Chương mới này
tập trung vào các nhóm chiến lược, quy hoạch, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác;
điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; khu vực khoáng sản; bảo vệ môi trường,
sử dụng đất, nước, cơ sở hạ tầng trong hoạt động khoáng sản; tài chính và đấu
giá quyền khai thác khoáng sản.
Cụ thể như điểm mới của Luật Khoáng sản
(sửa đổi) là đã bổ sung quy định về Chiến lược khoáng sản (Điều 9), nhằm định
hướng phát triển ngành công nghiệp khai khoáng cũng như công tác lập quy hoạch
khoáng sản, để khắc phục tình trạng chồng chéo trong công tác lập quy hoạch như
hiện nay.
Về quy định khu vực khoáng sản: Luật sửa
đổi đã bổ sung cụ thể về tiêu chí xác định khu vực cấm hoạt động khoáng sản,
khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản (Điều 28), khu vực dự trữ khoáng sản
quốc gia (Điều 29); bổ sung quy định về khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ
(Điều 27) làm cơ sở xác định thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản của
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Luật cũng đã quy định rõ điều kiện
khu vực hoạt động khoáng sản phải là có khoáng sản, đã được điều tra cơ bản địa
chất về khoáng sản và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khoanh định trong quy
hoạch.
Đặc biệt, điểm mới mang tính “đột phá” của
Luật Khoáng sản (sửa đổi) là sự thay đổi cơ bản cơ chế quản lý khoáng sản thông
qua các quy định về tài chính, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ
chế độ sở hữu toàn dân đối với khoáng sản và quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân
của Nhà nước, Luật quy định khoản thu khi Nhà nước cấp quyền khai thác khoáng
sản cho các tổ chức, cá nhân được gọi là “Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản”
(Điều 77). Đây chính là một phần lợi ích mà chủ sở hữu được hưởng khi giao
quyền khai thác khoáng sản cho tổ chức, cá nhân.
Điểm mới cơ bản nữa của Luật là về nguyên
tắc, việc cấp quyền khai thác khoáng sản phải thực hiện trên cơ sở đấu giá
quyền khai thác khoáng sản, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, tăng thu
cho ngân sách nhà nước (Điều 78). Tuy vậy, có một số khu vực khoáng sản, loại
khoáng sản khi cấp quyền khai thác không thể thông qua đấu giá. Ví dụ như
khoáng sản có tính chiến lược, khoáng sản ở khu vực nhạy cảm về môi trường, về
đảm bảo an ninh-quốc phòng, khu vực đã thăm dò trước ngày Luật có hiệu lực. Để
giải quyết vấn đề này, Luật đã quy định việc cấp quyền khai thác khoáng sản
không thông qua đấu giá được tiến hành ở khu vực khoáng sản do Thủ tướng Chính
phủ quyết định, trên cơ sở các tiêu chí do Chính phủ quy định để xem xét cụ
thể.
Để bảo vệ quyền lợi của địa phương và
người dân nơi có khoáng sản được khai thác, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa “Nhà
nước-Người dân-Doanh nghiệp”, Điều 5 của Luật Khoáng sản (sửa đổi) đã quy định
rõ hơn trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với địa phương
nơi có khoáng sản được khai thác. Như hỗ trợ đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng
hạ tầng kỹ thuật sử dụng trong khai thác khoáng sản và xây dựng những công
trình phúc lợi; kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ và phục
hồi môi trường. Luật còn quy định nếu tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản gây
thiệt hại đến hạ tầng kỹ thuật thì tùy theo mức độ thiệt hại phải có trách
nhiệm sửa chữa, duy tu xây mới hoặc bồi thường thỏa đáng; đồng thời ưu tiên sử
dụng lao động là người địa phương vào hoạt động có liên quan đến việc khai thác
khoáng sản…
Nguồn:http://www.monre.gov.vn